Thứ Năm, 14 tháng 1, 2021

Isoflavone là gì? Lợi ích của Isoflavone đối với sức khỏe con người

Isoflavone được coi là một loại chất bổ sung dinh dưỡng. Nó được sản xuất hầu như chỉ bởi họ Fabaceae (họ Đậu). Chúng là một nhóm phân tử cụ thể được gọi là phytochemical (hóa chất thực vật tự nhiên). Chất này được tìm thấy trong thực phẩm như các loại đậu và các loại thảo mộc như cỏ ba lá đỏ.

Isoflavone được coi là phytoestrogen, có nghĩa là chúng có cấu trúc tương tự như nội tiết tố nữ, estrogen. Isoflavone cũng được coi là hợp chất chống oxy hóa. Điều này có nghĩa là chúng làm giảm thiệt hại do oxy và có thể giúp chống lại một số loại ung thư.

Isoflavone


Đã có nhiều nghiên cứu về lợi ích và độ an toàn của isoflavone. Trên thực tế, isoflavone có thể là chất bổ sung tự nhiên gây tranh cãi nhất. Vì vậy nếu sử dụng, chúng ta cần phải cân nhắc giữa lợi và hại.

Lợi ích sức khỏe của Isoflavone gồm những gì?

Khi nói đến các thực phẩm, đậu nành chứa hàm lượng isoflavone cao nhất. Các nguồn thảo dược giàu isoflavone, bao gồm cỏ ba lá đỏ (Trifolium pratense) và cỏ linh lăng (Medicago sativa). Giống như đậu nành, cỏ ba lá đỏ được coi là cây họ đậu có chứa phytoestrogen.

Ở dạng phổ biến nhất, isoflavone đậu nành bao gồm genistein, daidzein và glycetein. Isoflavone được tìm thấy trong cỏ ba lá đỏ bao gồm formononetin, biochanin A, daidzein và genistein.

Isoflavones và Estrogen

Estrogen là hormone ảnh hưởng đến sự phát triển sinh sản và tình dục, chủ yếu ở phụ nữ. Có cấu trúc tương tự như estrogen cho phép isoflavone liên kết với các thụ thể estrogen.

Tùy thuộc vào tình trạng nội tiết tố của một người, isoflavone có thể ảnh hưởng đến theo cách tương tự như estrogen. Nó thực hiện bằng cách tạo ra tác dụng estrogen hoặc kháng nguyên.

Trong các nghiên cứu liên quan đến việc bổ sung isoflavone cho các triệu chứng mãn kinh, một số lợi ích đã được chứng minh. Chẳng hạn như cải thiện tình trạng mệt mỏi, cáu kỉnh và giảm các cơn bốc hỏa.

Ngoài tác dụng giảm mãn kinh, isoflavone còn được cho là ngăn ngừa một số loại ung thư và bảo vệ tim mạch. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng bổ sung protein đậu nành (có chứa isoflavone) làm giảm cả tổng số và tỷ trọng thấp (LDL) cholesterol trong các nghiên cứu trên động vật và con người.

Nhưng có những kết quả nghiên cứu trái ngược nhau về isoflavone. Một số cho thấy lợi ích đối với sức khỏe và một số khác cho thấy tác dụng phụ có hại.

Đậu nành trong chế độ ăn uống

Ở châu Á, nơi đậu nành được ăn như một thực phẩm thường xuyên, tỷ lệ mắc bệnh tim, ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt thấp hơn ở Mỹ. Nhưng nhiều người châu Á ăn đậu nành khác với các nước phương Tây.

Người châu Á nổi tiếng ăn lượng lớn đậu nành hàng ngày. Ở phương Đông, người ta cũng thường ăn các dạng đậu nành lên men, bao gồm miso, tempeh và tamari. Người ta cho rằng quá trình lên men giúp tiêu hóa đậu nành và thậm chí có thể thúc đẩy khả năng hấp thụ isoflavone của cơ thể.

Nhiều chuyên gia sức khỏe cho rằng ăn đậu nành lên men điều độ có thể:

  • Tăng mật độ xương
  • Giúp ngăn ngừa ung thư vú và ung thư tử cung
  • Giảm tỷ lệ mắc ung thư tuyến tiền liệt
  • Giảm mức cholesterol xấu
  • Cải thiện hoạt động trí óc
  • Giảm đau nhức cơ (đặc biệt là sau khi tập thể dục).

Sử dụng isoflavone  trong y tế

  • Ung thư vú: Nghiên cứu hỗn hợp. Những người ăn chế độ ăn nhiều đậu nành trong những năm thanh thiếu niên có thể giảm nguy cơ ung thư vú sau này trong cuộc sống. Nhưng một số nghiên cứu cho thấy isoflavone từ đậu nành có thể làm tăng nguy cơ ung thư.
  • Bệnh tiểu đường loại 2: Nghiên cứu nói rằng ăn protein đậu nành hoặc đậu nành lên men có thể làm giảm lượng đường trong máu ở những người mắc bệnh tiểu đường.
  • Tiêu chảy ở trẻ sơ sinh: Bổ sung sữa công thức từ đậu nành có thể rút ngắn thời gian bị tiêu chảy. Điều quan trọng cần lưu ý là ở người lớn, chất xơ đậu nành KHÔNG được tìm thấy để cải thiện tiêu chảy.
  • Cholesterol cao: Các bằng chứng nghiên cứu lâm sàng cho thấy rằng isoflavone từ đậu nành làm giảm lượng cholesterol xấu được gọi là LDL.
  • Huyết áp cao: Ăn đậu nành có thể làm giảm huyết áp một chút và được khuyến khích cho những người bị tăng huyết áp nhẹ. Tuy nhiên, nó không có kết quả ở những người bị huyết áp cao nghiêm trọng.
  • Hội chứng ruột kích thích (IBS): Một số nghiên cứu cho thấy isoflavone trong đậu nành có thể cải thiện các triệu chứng của IBS. Chẳng hạn như đau bụng.
  • Các triệu chứng mãn kinh: Các triệu chứng như cáu kỉnh, trầm cảm và bốc hỏa có thể giảm bớt khi sử dụng isoflavone. Tuy nhiên, isoflavone KHÔNG được tìm thấy là có lợi cho việc đổ mồ hôi ban đêm.
  • Loãng xương: Trong các nghiên cứu, protein đậu nành và isoflavone ở dạng bổ sung đều được phát hiện là có tác dụng làm tăng mật độ xương.

Tác dụng phụ có thể xảy ra

Hầu hết các tác dụng phụ của isoflavone liên quan đến việc sử dụng lâu dài các chất bổ sung. Nó cũng bao gồm các nguồn thực phẩm như đậu nành. Nhưng dữ liệu dịch tễ học đã chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa việc tiêu thụ đậu nành lâu dài và bệnh Kawasaki (KD). Isoflavone trong đậu nành có liên quan đến sự phát triển của bệnh.

Đã có một nghiên cứu về mối quan hệ của trẻ sơ sinh với sữa công thức từ đậu nành. Các nhà nghiên cứu cho biết nó có những tác động tiêu cực đến sự phát triển của trẻ sơ sinh.

Sự phát triển của tế bào ung thư vú có liên quan đến việc tiếp xúc lâu dài với genistein. Điều này dẫn đến cái được gọi là “các khối u do protein đậu nành gây ra và các kiểu hình tăng trưởng tiên tiến ”.

Đã có các nghiên cứu trên động vật về isoflavone genistein. Kết quả cho thấy nó có thể có tác động xấu đến đường sinh sản của phụ nữ.

Khi tiêu thụ trong thời gian ngắn (lên đến sáu tháng) đậu nành được coi là có thể an toàn. Các tác dụng phụ thường gặp có thể bao gồm:

  • Táo bón, đầy bụng và buồn nôn
  • Phản ứng dị ứng (liên quan đến phát ban, ngứa và trong trường hợp nghiêm trọng, phản vệ)
  • Ăn mất ngon

Thận trọng (Chống chỉ định)

Không có đủ dữ liệu nghiên cứu lâm sàng để hỗ trợ việc sử dụng an toàn các sản phẩm đậu nành khi mang thai hoặc cho con bú, đặc biệt là ở liều cao hơn. Vì vậy, những đối tượng này không nên sử dụng.

Đã có một số phát hiện nghiên cứu sơ bộ cho thấy mối liên hệ giữa sữa bột đậu nành với trẻ sơ sinh chậm phát triển. Nhưng theo Drugs.com đã kết luận rằng có rất ít mối lo ngại về các tác động phát triển trong trẻ sơ sinh bú sữa công thức đậu nành.

Dùng sữa công thức đậu nành lâu dài nên thảo luận với nhà cung cấp dịch vụ.

Trẻ em không nên ăn đậu nành với lượng lớn. Không chắc chắn liệu đậu nành có an toàn cho trẻ em ở liều lượng cao hay không.

Người bị hen suyễn hoặc sốt có thể có nguy cơ cao bị phản ứng dị ứng với đậu nành.

Người bị ung thư vú nên thảo luận về việc dùng isoflavone với bác sĩ ung thư. Các dữ liệu nghiên cứu là hỗn hợp và có thể đậu nành có thể hoạt động giống như estrogen. Nó thúc đẩy sự phát triển của tế bào ung thư trong một số loại ung thư vú.

Trẻ em bị xơ nang nên tránh dùng isoflavone. Bởi vì chúng có thể cản trở những đứa trẻ này xử lý protein trong cơ thể.

Liều lượng sử dụng

Các liều sau đây được hỗ trợ bởi các nghiên cứu lâm sàng:

  • Phụ nữ sau mãn kinh, Nên dùng ít nhất 54 mg genistein (một loại isoflavone đậu nành) mỗi ngày. Điều này có thể giúp giảm được các cơn bốc hỏa.
  • Đối với IBS: Bổ sung 40 mg isoflavone mỗi ngày trong 6 tuần.
  • Để bảo vệ chống loãng xương: Bổ sung 80 mg isoflavone đậu nành mỗi ngày. Nó có thể làm giảm sự mất xương ở phụ nữ sau mãn kinh (bảo vệ chống loãng xương).
  • Để bổ chung, nên sử dụng liều hàng ngày từ 40 đến 120 mg isoflavone mỗi ngày (từ đậu nành). Hoặc 40 đến 80 mg isoflavone (từ cỏ ba lá đỏ) mỗi ngày.

Lưu ý, không thể đảm bảo an toàn của việc sử dụng isoflavone. Nhưng nó có thể được dùng như một chất bổ sung. Tuy nhiên, không dùng trong thời gian dài hơn sáu tháng.

banner
Previous Post
Next Post

0 nhận xét: